1. Khái niệm biến đổi xã hội

Mọi xã hội đều không ngừng biến đổi, sự ổn định của xã hội chỉ là sự ổn định bề ngoài, mang tính tạm thời còn thực tế nó không ngừng biến đổi. Đối với xã hội hiện đại sự biến đổi càng rõ hơn và nhanh hơn. Rõ ràng là, sự biến đổi xã hội không phải là điều mới mẻ, mà là chuyện diễn ra thường xuyên và thường ngày.

Có nhiều cách quan niệm về sự biến đổi xã hội. Theo một cách hiểu rộng nhất, biến đỏi xã hội là sự thay đổi so sánh giữa tình trạng hiện tại của xã hội cũng như các bộ phận, yếu tố cấu thành xã hội so với tình trạng cũ hay trong quá khứ. Trong phạm vi hẹp, người ta lại cho rằng sự biến đổi xã hội chính là sự biến đổi về cấu trúc xã hội (hay tổ chức xã hội của xã hội đó) và sự biến đổi này ảnh hưởng sâu sắc đến mọi thành viên của xã hội. Tuy nhiên, đó chỉ là hai trong rất nhiều cách biểu hiện về sự biến đổi xã hội.

Nói đến sự biến đổi là nói đến sự thay đổi, song không phải sự thay đổi nào cũng được gọi là sự biến đổi xã hội, mà chỉ những thay đổi có ảnh hưởng sâu sắc tới đông đảo cá nhân trong xã hội, hay sự thay đổi của các cơ cấu tổ chức, các tầng lớp xã hội… mới được gọi là biến đổi xã hội. Sự biến đổi xã hội không chỉ diễn ra ở tầm vĩ mô, mà cả ở tầm vi mô, không chỉ trên lĩnh vực cấu trúc thượng tầng, mà còn cả ở nền sản xuất vật chất hay cơ sở hạ tầng. Sự biến đổi xã hội, không chỉ theo chiều hướng tiến bộ, tiến hóa, mà có thể cả theo bước thụt lùi xã hội.

Từ cách hiểu đó, ta có thể thống nhất khái niệm về sự biến đổi xã hội như sau: Biến đổi xã hội là một quá trình, qua đó những khuôn mẫu của các hành vi xã hội, các quan hệ xã hội, các thiết chế xã hội và các hệ thống phân tầng xã hội được thay đổi theo thời gian.

Theo quan điểm của triết học, mọi sự vật và hiện tượng đều biến đổi và phát triển, đứng yên chỉ là hình thức tồn tại nhất thời của vận động. Và cũng như vậy, xã hội cũng giống như các thực thể khác không ngừng vận động và thay đổi. Tất cả các xã hội đều ở trong một tình trạng “đứng yên trong sự vận động liên tục”, có chăng chỉ khác nhau ở mức độ hay phạm vi của sự biến đổi từ xã hộ này đến xã hội khác. Trong lịch sử phát triển của nhân loại, ở những thời kỳ lịch sử trước, sự biến đổi xã hội thường diễn ra rất chậm chạp. Ví dụ, ở các xã hội săn bắn và hái lượm, tuy họ chấp nhận lối sống mới và từ bỏ những phong tục truyền thống nhưng họ làm điều đó rất chậm chạp, trải qua hàng thế kỷ, thậm chí hàng triệu năm. Đến xã hội nông nghiệp sự biến đổi xã hội có khá hơn, song vẫn còn chậm chạp. Và phải đến xã hội công nghiệp cùng với sự hình thành các đô thị, và đặc biệt là đến xã hội hậu công nghiệp, tốc độ biến đổi xã hội diễn ra nhanh hơn và sự biến đổi xã hội chỉ trải qua vài thập kỷ, thậm chí một vài năm.

Căn cứ vào phạm vi ảnh hưởng của biến đổi xã hội, ta có thể chia nó ra thành hai cấp độ như sau:

  • Những biến đổi vĩ mô: Đó là những biến đổi diễn ra và trải rộng trên một phạm vi lớn, trong đó, chúng được diễn ra trong những thời kỳ dài. Sự biến đổi vĩ mô có thể không nhận thấy được vì nó diễn ra quá chậm chạp đối với con người. Một ví dụ về sự biến đổi vĩ mô là sự hiện đại hóa, đó là một quá trình các xã hội trở nên khác nhau bên trong nhiều hơn, như sự thay đổi các thiết chế xã hội giản đơn bằng những thiết chế xã hội phức tạp hơn.
  • Những biến đổi vi mô: Đó là những biến đổi nhỏ, nhanh, được tạo ra bởi những quyết định, những hành vi trong quan hệ tương tác của con người trong đời sống hằng ngày.

2. Đặc điểm của sự biến đổi xã hội

Sự biến đổi xã hội có những đặc trưng cơ bản sau:

* Sự biến đổi của xã hội là kết quả của những hoạt động tích cực và sáng tạo của con người.

Thông qua mọi hoạt động vật chất cũng như tinh thần, thông qua lao động sáng tạo, con người đã làm thay đổi môi trường tự nhiên, đồng thời cũng làm thay đổi cả môi trưởng xã hội, làm cho xã hội biến đổi.

* Biến đổi xã hội là hiện tượng phổ biến nhưng nó diễn ra không giống nhau cả về nhịp độ, tốc độ, quy mô không gian và thời gian giữa các xã hội:

Sự biến đổi của mỗi bộ phận, mỗi thành phần của cơ cấu xã hội cũng diễn ra với nhịp điệu, tốc độ khác nhau trong những không gian và thời gian cụ thể nhất định. Mỗi xã hội đều biến đổi theo thời gian, nhưng do các điều kiện khác nhau nên các xã hội biến đổi theo các nhịp độ nhanh chậm khác nhau. Tốc độ của sự gia tăng khi nền khoa học kỹ thuật của xã hội phát triển. Do đó, biến đổi xã hội ở các xã hội có nền khoa học kỹ thuật phát triển cao sẽ diễn ra nhanh hơn, sâu sắc hơn có phạm vi không gian lớn hơn những xã hội có nền khoa học kỹ thuật kém phát triển. Trong sự biến đổi xã hội thì biến đổi cơ sở hạ tầng nhanh hơn và đóng vai trò quyết định so với biến đổi của kiến trúc thượng tẩng mà biểu hiện qua văn hóa xã hội. Ngay cả các yếu tố văn hóa cũng vậy, thông thường, những hiện tượng văn hóa vật chất thường biến đổi nhanh hơn các hiện tượng văn hóa tinh thần.

* Biến đổi xã hội có sự khác biệt về thời gian và ảnh hưởng của chúng đối với đời sống xã hội.

Có những biến đổi chỉ diễn ra trong một thời gian ngắn và không có ảnh hưởng lâu dài. Nhưng cũng có những biến đổi trong một thời kỳ dài, có khi hàng ngàn năm hay vài thế hệ. Những ảnh hưởng của biến đổi xã hội cũng khác nhau tùy thuộc vào tính chất, mức độ phạm vi của sự biến đổi xã hội đó. Mặt khác, biến đổi xã hội vừa có những ảnh hưởng tích cực vừa có những ảnh hưởng tiêu cực đối với đời sống xã hội. Ví dụ như cách mạng khoa học – công nghệ: một mặt, nó tạo ra khả năng phi thường cho con người trong chinh phục thiên nhiên, trong nâng cao đời sống vật chất và tinh thần, trong phân công lao động xã hội mới, trong quá trình đô thị hóa…, nhưng mặt khác, nó cũng ảnh hưởng đến môi trường sinh thái, đến sự hủy diệt, hay can thiệp vào đời sống riêng tư của con người, trong đó, bao gồm cả những lĩnh vực văn hóa – tinh thần, phá vỡ tập tục truyền thống, gia tăng tệ nạn xã hội… Bên cạnh những thay đổi về mặt kỹ thuật, những thay đổi trong các khuôn mẫu, chuẩn mực xã hội hoặc hành vi xã hội có liên quan đến hành vi giới hoặc chủng tộc cũng trở thành những vấn để gây tranh luận. Nhất là khi những thay đổi trong các khuôn mẫu đem lại lợi ích nhiều hơn cho nam giới, cho các dân tộc phát triển, cho các dân tộc được gọi là “thượng đẳng”…

* Biến đổi xã hội vừa có tính kế hoạch vừa có tính phi kế hoạch

Đây là tính hai mặt của sự biến đổi. Nói một cách khác, những biến đổi xã hội do con người tạo nên đều xuất phát từ tính tự giác, chủ động của con người, do đó có thể kiểm soát được. Song đồng thời cũng biến đổi do con người tạo ra nhưng không phải là do tự giác mà là tự phát, bị động mà xã hội khó có thể kiểm soát được. Ví dụ như khi cho nền kinh tế nước nhà vận hành theo cơ chế thị trường, chúng ta đã chủ động tạo ra những biến đổi xã hội về mặt kinh tế, đem lại sự phát triển nhanh, mạnh, song chúng ta lại đang phải đứng trước những mặt trái khó kiểm soát như: thất nghiệp, lối sống, tệ nạn xã hội, phân hóa giàu nghèo…

* Có sự thống nhất giữa biến đổi kinh tế với biến đổi các mặt khác của xã hội

Xã hội là một hệ thống phức tạp, các mặt, các yếu tố của đời sống xã hội không ngừng tác động qua lại lẫn nhau, chi phối lẫn nhau, trong đó sản xuất và dịch vụ là cơ sở của đời sống xã hội quyết định các mặt khác của đời sống xã hội như: chính trị, tư tưởng, văn hóa. Sự biến đổi của xã hội bắt đầu từ sự biến đổi của sản xuất, của phương thức sản xuất. Khi kinh tế biến đổi thì mọi mặt khác của đời sống xã hội cũng biến đổi theo. Ngược lại, khi các yếu tố khác của đời sống xã hội biến đổi, có thể tác động tới sự biến đổi kinh tế theo những chiều hướng khác nhau. Vì vậy, giải quyết những vấn đề kinh tế không thể tách rời những vấn để xã hội và ngược lại, không thể giải quyết những vấn đề xã hội với bất cứ giá nào, không tâm gì đến khía cạnh kinh tế.

* Trong quá trình biến đổi xã hội tất yếu có các xu hướng trái ngược nhau:

Sự biến đổi xã hội là một quá trình phức tạp và đầy mâu thuẫn. Bất kỳ một giai đoạn phát triển nào của xã hội cũng đều chứa đựng những xu hướng trái ngược nhau. Khi xã hội càng phát triển, các cấu trúc và quan hệ xã hội càng phức tạp thì các xu hướng đó cũng trở nên phức tạp hơn. Trong quá trình biến đổi xã hội, khi khắc phục được mâu thuẫn này lại nảy sinh những mâu thuẫn khác, phát triển mặt này lại làm hạn chế mặt kia. Thí dụ, trong quá trình chuyển từ nền kinh tế tập trung, quan liêu, bao cấp sang kinh tế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, nền kinh tế có nhiều khởi sắc nhưng lại nảy sinh những mặt trái như chạy theo lợi nhuận đơn thuần, phân hóa giàu nghèo, không quan tâm đến những vấn để xã hội…

* Quá trình biến đổi xã hộ có tính kế thừa:

Trong quá trình biến đổi xã hội, các thế hệ loài người kế tiếp nhau một cách liên tục, mỗi thế hệ mới ra đời đều có sự kế thừa các thành tựu về văn hóa, khoa học, kinh tế… của các thế hệ trước. Kế thừa và biến đổi là hai mặt không thể tách rời nhau trong đời sống xã hội. Thái độ giữ nguyên cái cũ, hoặc gạt bỏ hoàn toàn cái cũ đều là phản khoa học, phản tiến bộ. Kế thừa diễn ra trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, nhưng ở mỗi lĩnh vực có những đặc thù riêng. Kế thừa diễn ra theo chiều hướng khác nhau, có thể là tự phát, hoặc cũng có thể là tự giác, thông qua hoạt động của các chủ thể xã hội vì những mục đích xã hội nhất định.

3. Các quan điểm về biến đổi xã hội

3.1. Quan điểm của các nhà xã hội học không tưởng

Tiêu biểu cho các nhà xã hội học không tưởng là H.Sait – Simon (người Pháp, 1760 – 1825), S.Furie (người Pháp, 1722 – 1837) và R.Owen (người Anh, 1771 -1858). Họ cho rằng xã hội biến đổi trải qua những giai đoạn khác nhau và tuân theo những quy luật nhất định. Những biến động xã hội, thay thế xã hội cũ lạc hậu bằng xã hội mới văn minh hơn – một xã hội lý tưởng – là tất yếu, mà nguyên nhân là do tiến bộ của tri thức khoa học, của tôn giáo và đạo đức (Saint – Simon) hoặc là do xung đột xã hội và giải quyết xung đột đó (S.Furie). Theo họ, cần thiết phải thực hiện việc cải cách xã hội từ trên theo những thiết chế mà họ đã nghĩ ra để thực hiện sự bình đẳng và công bằng xã hội. Thế nhưng, trên thực tế chưa thể xây dựng được một xã hội như vậy vì những điều kiện tiền đề cho chúng chưa sẵn sàng.

3.2. Quan điểm của thuyết tiền hóa về xã hội

Thuyết tiến hóa ban đầu do Darwin nêu ra trong lĩnh vực sinh học. Theo ông, giới sinh vật tồn tại và phát triển dựa vào những nhân tố biến dị, di truyển và chọn lọc tự nhiên. Thuyết tiến hóa quan niệm sự tiến hóa là một sự vận động đi lên của các giống loài, từ thấp lên cao, từ đơn giản đến phức tạp theo những trình tự tất yếu.

Từ mô hình của tự nhiên đó, các nhà xã hội học đã mượn chúng vào để lý giải sự biến đổi của xã hộ và hình thành nên thuyết tiến hóa về xã hội. Thuyết này xuất hiện vào cuối thế kỷ XIX, tiêu biểu là A.Comte, H.Spencer và E.Durkheim.

Chẳng hạn, theo A.Comte thì xã hội loài người biến đổi qua ba giai đoạn kế tiếp nhau là giai đoạn thần học (giai đoạn định hình xã hội – con người bất lực với giới tự nhiên), giai đoạn siêu hình (giai đoạn hình thành của tôn giáo với niềm tin vào chúa và các đấng cứu thế toàn năng) và giai đoạn thực chứng (giai đoạn khoa học – trí tuệ và tri thức khoa học là động lực, sức mạnh duy trì và phát triển xã hội). Sự biến đổi và phát triển của xã hội qua ba giai đoạn trên được diễn ra theo phương thức tiến hóa dần dần, không phải bằng đấu tranh xã hội với các bước nhảy vọt mà bằng khoa học, trí tuệ.

Spencer đã xây dựng một lý thuyết thống nhất về sự tiến hóa theo công thức chuyển từ cái thuần nhất đơn giản sang cái không thuần nhất phức tạp, thông qua phân hóa để đạt tới sự thống nhất. Theo ông, tiến hóa xã hội cũng tuân thủ một quy luật như tiến hóa cơ thể và khi phân loại tiến hóa thành ba loại tiến hóa vô cơ, tiến hóa siêu hữu cơ, là cơ thể đặc biệt của xã hội.

3.3. Quan điểm của học thuyết Mác – Lênin

Cho đến nay, chưa có một học thuyết nào giải quyết triệt để khoa học và toàn diện về lịch sử hình thành và phát triển xã hội bằng học thuyết Mác – Ănghen. Học thuyết của Mác – Ănghen đã được Lênin kế thừa và phát triển thành học thuyết Mác – Lênin. Theo học thuyết đó, sự phát triển của xã hội loài người cũng giống như lịch sử của tự nhiên, trải qua các giai đoạn khác nhau phát triển theo một quy luật từ thấp lên cao. Trong các xã hội có giai cấp thì lịch sử của sự phát triển xã hội chính là lịch sử đấu tranh giai cấp mà đỉnh cao là các cuộc cách mạng xã hội. Kết quả của cuộc cách mạng xã hội là tạo ra một hình thái kinh tế xã hội mới cao hơn.

Xã hội loài người phát triển hoặc là tuần tự hoặc là nhảy vọt qua các hình thái kinh tế xã hội mà động lực quyết định sự tồn tại, biến đổi và phát triển xã hội là đời sống vật chất của xã hội – phương thức sản xuất, mà trong mỗi phương thức sản xuất, lượng sản xuất là yếu tố đóng vai trò quyết định (Quan hệ sản xuất phải phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất).

4.4. Các quan điểm hiện đại

a. Quan điểm tổng hợp

Hầu hết các quan điểm hiện đại đều nhấn mạnh yếu tố giai cấp, các hình thức xung đột trong mỗi xã hội và giữa các xã hội. Họ cho rẳng sự tương tác phức tạp của nhiều yếu tố bên trong cũng như bên ngoài đã tạo ra sự biến đổi xã hội, mặc dù ảnh hưởng của từng yếu tố có thể khác nhau trong những điều kiện và hoàn cảnh xã hội nhất định. Họ thường nhắc đến những yếu tố sau:

  • Môi trường vật chất: Môi trường vật chất bao gồm nhũng biến động lớn và biểu hiện bất lợi của môi trường sinh thái do những nguyên nhân từ phía con người, là động lực tiểm ẩn làm thay đổi môi trường vật chất trong tương lai, là động lực của sự biến đổi xã hội.
  • Công nghệ: Công nghệ là tổng thể chung các phương pháp gia công, chế tạo, làm thay đổi trạng thái, tính chất, hình dạng nguyên liệu hay bán thành phẩm trong quá trình sản xuất để tạo sản phẩm hoàn chỉnh. Hay đó chính là sự áp dụng kiến thức trong thực tiễn, là tri thức ứng dụng. Nó có sức mạnh đối với sự biến đổi xã hội ngay từ khi công cụ đầu tiên ra đời. Ngày nay những công nghệ tin học, laze, công nghệ gen, công nghệ sinh học… đang tạo ra sức mạnh to lớn thúc đẩy sự biến đổi xã hội, đồng thời cũng giúp cho các nhà lãnh đạo giám sát và quản lý xã hội.
  • Dân số và lao động: Sức ép dân số và lao động cũng là vấn đề quan trọng dẫn đến sự biến đổi. Sự gia tăng dân số và lao động, sự thay đổi về quy mô, về mật độ dân số, về sự di động dân số và lao động theo lãnh thổ, theo ngành, giữa thành thị và nông thôn, giữa sản xuất với dịch vụ… qua hai thế kỷ nay đã cho thấy điều đó.
  • Giao lưu văn hóa: Trong thời đại quốc tế hóa thì việc giao lưu văn hóa là yếu tố quan trọng đối với biến đổi xã hội. Hiện nay, các lĩnh vực như du lịch, thương mại quốc tế, công nghệ viễn thông toàn cầu… là những yếu tố có tác động mạnh mẽ và sự giao lưu diễn ra trên phạm vi rộng lớn, theo hướng đa phương, đa chiều đã tạo ra sự biến đổi trên nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội, từ đời sống vật chất đến đời sống tinh thần.
  • Xung đột xã hội: Xung đột xã hội là yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến nhịp độ biến đổi xã hội. Xung đột xã hội thường diễn ra do những mâu thuẫn về lợi ích và vì lợi ích, vì tranh giành sự kiểm soát các nguồn lực mà một tầng lớp người này thường xung đột với tầng lớp người kia. Ngày nay, mọi quốc gia đều nằm trong một chính sách toàn cầu về chính trị và kinh tế và chính việc đấu tranh cho sự phồn thịnh, sự văn minh, nhân quyền và công bằng xã hội đang là yếu tố tạo ra quá trình biến đổi xã hội.

b. Quan điểm toàn cầu

Các nhà xã hội học hiện đại cho rằng để hiểu sự biến đổi xã hội hiện đại phải xem xét trong mỗi dân tộc, mỗi nền văn hóa cụ thể và họ giải thích sự biến đổi và phát triển của dân tộc dựa vào hai lý thuyết cơ bản:

  • Lý thuyết hiện đại hóa: Dựa vào thuyết tiến hóa thuyết chức năng, lý thuyết này cho rằng sự phát triển của nhân loại là một quá trinh tiến bộ và lâu dài, trong đó khoa học và công nghệ là yếu tố quyết định tạo ra sự hiện đại hóa. Hiện đại hóa là một quá trình tất yếu, mang lại nhiều lợi ích cho con người, cho xã hội. Nó mang tính Âu hóa hoặc Mỹ hóa và xảy ra trên toàn cầu cả ở các dân tộc kém phát triển có những vật cản nhất định. Mặt khác, hiện đại hóa là một quá trình lâu dài có thể vài chục năm hoặc vài thế kỷ…
  • Lý thuyết hệ thống thế giới: Lý thuyết này cho rằng mặc dù các dân tộc trên thế giới có sự khác biệt về văn hóa nhưng tất cả các dân tộc đều là bộ phận của sự phân công lao động quốc tế rộng lớn và không bình đẳng về quan hệ chính trị, trong đó các nước phát triển, đang phát triển phải trợ giúp các nước kém phát triển.

Bên cạnh lý thuyết hệ thống thế giới còn có lý thuyết phụ thuộc. Lý thuyết này cho rằng các quốc gia đã công nghiệp hóa và các quốc gia thuộc thế giới thứ ba có những quan hệ phụ thuộc trên các lĩnh vực như: thương mại, công nghiệp và đầu tư. Bề ngoài là hợp tác, cùng có lợi, nhưng thực chất là lợi ích tối hậu của các nước phát triển, là gánh nặng đè lên ngân sách, lối sống, là sự bất ổn, bất bình đẳng và sự gia tăng tệ nạn xã hội… ở các nước kém phát triển.

4. Những nhân tố và điều kiện của sự biến đổi xã hội

4.1. Những nhân tố của sự biến đổi xã hội

Có nhiều nhân tố liên quan đến sự biến đổi xã hội. Có nhiều cách tiếp cận hay phân loại những nhân tố đó. Có tài liệu phân ra thành các nhân tố bên trong và nhân tố bên ngoài của sự biến đổi; có tài liệu phân chia thành nhân tố chủ quan và nhân tố khách quan; có tài liệu phân chia các nhân tố theo nhóm vấn đề. Dù khác nhau, nhưng nhìn chung, có thể khái quát ở các nhân tố cơ bản sau:

a. Nhóm các nhân tố thuộc điều kiện tự nhiên

Nhóm này bao gồm toàn bộ các yếu tố của điều kiện tự nhiên như vị trí địa lý, đất đai, sông núi, tài nguyên, khí hậu, hệ động, thực vật… Tiềm năng và sự phân bố các điều kiện tự nhiên có ảnh hưởng trực tiếp đến lối sống, hành vi và hoạt động ứng xử của con người. Thông thường, sự ưu đãi của tự nhiên, sự giàu có về tài nguyên tạo ra nguồn lực dồi dào, động lực cho sự biến đổi và phát triển. Tuy nhiên, lịch sử của nhân loại cũng đã cho thấy những chiều hướng ngược: ở các quốc gia có điều kiện tự nhiên thuận lợi lại thường sử dụng những điều kiện đó theo “chiều rộng”, lãng phí, ít chú ý tới tính hiệu quả; trong khi các nước có điều kiện tự nhiên khó khăn, hạn chế về nhiều mặt thường quan tâm đến sự phát triển theo “chiều sâu”, tận dụng tối đa và có hiệu quả những điều kiện tự nhiên hạn chế đó để phát triển.

Mặt khác, sự thay đổi về môi trường sinh thái, đặc biệt là sự ô nhiễm môi trường và mất cân bằng sinh thái cũng là nhân tố ảnh hưởng tiêu cực đến biến đổi xã hội.

b. Nhóm các nhân tố khoa học kỹ thuật và công nghệ

Khoa học, kỹ thuật và công nghệ là một yếu tố cơ bản của sự biến đổi xã hội. Quan điểm của thuyết kỹ trị về xã hội cho rằng khoa học, kỹ thuật và công nghệ là nhân tố quyết định đến biến đổi xã hội. Xã hội loài người biến đổi và phát triển qua ba nền văn minh: nông nghiệp, công nghiệp và hậu công nghiệp, mà gắn liền với các nền văn minh đó là kỹ thuật – công nghệ tương ứng. Thông thường một kỹ thuật mới, một công nghệ mới xuất hiện rồi mất đi khi nó đã trở nên quá lạc hậu. Cách mạng khoa học – kỹ thuật đã dẫn đến sự thay đổi đời sống kinh tế, xã hội, văn hóa một cách rộng rãi (ví dụ như việc phát minh ra Internet). Quá trình vận dụng những tiến bộ kỹ thuật và khoa học – công nghệ trong sản xuất, trong lưu thông đã thúc đẩy quá trình phân công lao động xã hội mới, thúc đẩy quá trình đô thị hóa. Trong cuộc sống, kỹ thuật mới và công nghệ mới, cùng với chúng là tính hiện đại và quá trình hiện đại hóa góp phần làm thay đổi nhận thức và quan hệ xã hội giữa các cá nhân… Tuy nhiên, kỹ thuật và công nghệ mới, cũng gây ra cho con người nhiều tác hại như môi trường sinh thái, như sự thay đổi lối sống, phá vỡ truyền thống…

c. Nhóm các nhân tố chủ thế xã hội

Chủ thể xã hội là các thực thể xã hội tạo ra các hoạt động xã hội, bao gồm cá nhân, nhóm (tập đoàn) xã hội, cộng đồng, thiết chế hay thể chế xã hội cùng quan hệ giữa chúng. Nói đến chủ thể xã hội, trước hết phải nói đến vai trò của quần chúng nhân dân, với tư cách vừa là chủ thể, đối tượng, vừa là tác nhân của sự biến đổi xã hội. Ta đều biết cách mạng là sự nghiệp của quần chúng nhân dân và chính quần chúng nhân dân với sức mạnh tổng hợp của mình trở thành động lực cho sự biến đổi xã hội. Nhưng để quần chúng nhân dân phát huy được sức mạnh của mình, đòi hỏi phải có sự lãnh đạo của các đảng phái chính trị, Nhà nước hay chính phủ. Một chính đảng có đường lối vừa cách mạng vừa khoa học, một nhà nước có hiệu lực lãnh đạo quần chúng nhân dân theo một mục tiêu định trước sẽ là nhân tố đóng vai trò quyết định trong sự biến đổi xã hội. Bên cạnh đó ta cũng phải thấy vai trò của các cá nhân của những người lãnh đạo, của những lãnh tụ. Thời nào cũng vậy, xã hội luôn có những lãnh tụ, có những người lãnh đạo với tài, đức đã tập hợp được quần chúng nhân dân để thực hiện những sự biến đổi xã hội. Lịch sử của dân tộc Việt Nam gắn liền với tên tuổi của nhiều vị lãnh tụ, trong đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chứng minh điều đó.

d. Nhóm các nhân tố văn hóa – xã hội

– Văn hóa: Việc hình thành nền văn hóa mới (với những niềm tin và giá trị mới) cũng có thể tạo nên sự biến đổi xã hội. Hơn nữa, nhiều nhà xã hội học cho rằng sự thay đổi nhanh của kỹ thuật ở các nước phương Tây được thúc đẩy bởi sự chấp thuận của các tư tưởng tiến bộ. Sự tiến bộ của tư duy không phải chỉ là khả năng, mà là một tất yếu và nhờ nó mà xã hội biến đổi.

– Những cấu trúc xã hội mới: những hình thức cấu thành xã hội mới cũng là nhân tố tạo ra sự biến đổi xã hội. Thông qua cấu trúc xã hội mới, kỹ thuật, công nghệ mới được nghiên cứu và triển khai; đến lượt nó, kỹ thuật, công nghệ mới lại tạo ra những ngành nghề mới, tạo ra sự phân công lao động xã hội mới, tạo ra cơ cấu xã hội mới, tổ chức xã hội mới. Thí dụ, sự thay đổi vai trò của “giới” đã tác động nhiều đến sự biến đổi xã hội. Hoặc sự thay đổi cơ cấu giai cấp cũng dẫn đến sự biến đổi xã hội và tạo thành cấu trúc xã hội mới.

– Những xung đột: nhiều sự thay đổi được tạo nên bởi những xung đột trong các nhóm khác nhau của xã hội. Đó là những mâu thuẫn giữa các giai cấp, chủng tộc, các thế hệ, các giới, các nhóm dân tộc hay tôn giáo… Những mâu thuẫn xã hội đó, theo K.Marx, xuất phát từ những bất bình đẳng (bất bình đẳng giới, bất bình đẳng giai cấp…) và quá trình giải quyết những mâu thuẫn đó sẽ đem đến những biến đổi về mặt xã hội. Ví dụ như phong trào đấu tranh giành quyền bình đẳng giữa nam và nữ, những xung đột trong nhiều nhóm tôn giáo của đạo Tin lành dường như là cơ sở cho quyết định phân chia nhà thờ với những nhánh tôn giáo khác nhau, với những nghi lễ và đội ngũ tín đồ khác nhau. Rồi các phong trào đấu tranh của công nhân, đấu tranh dân quyền ở các xã hội trên khắp thế giới… Đó chính là biểu hiện của xung đột xã hội. Các phong trào đó đã tạo nên sự biến đổi xã hội theo những phạm vi khác nhau.

– Tăng trưởng dân số: phát triển nhanh dân số là một động lực chính đưa đến sự biến đổi của xã hội hiện đại. Sự thay đổi căn bản về quy mô dân số, cơ cấu dân số theo nhiều giác độ khác nhau: lãnh thổ, giới tính, lứa tuổi,… có thể gây ra những biến đổi sâu sắc về văn hóa và xã hội, đồng thời kéo theo sự biến đổi về cấu trúc và tổ chức xã hội. Ví dụ, khi quy mô dân số nhỏ có thể cho phép thực hiện hình thức dân chủ trực tiếp (các công dân đều có cơ hội để đưa ra những ý kiến riêng của mình) nhưng đối với một xã hội có quy mô dân số lớn lại đòi hỏi một mô hình mới của dân chủ: người đại diện của chính phủ thực thi các quyết định của xã hội. Nói một cách khái quát, khi dân số tăng hay giảm, cơ cấu dân số dù biến động theo bất kỳ chiều hướng nào, các mô hình mới của tổ chức xã hội cũng biến đổi tương ứng, và sự biến đổi xã hội là điều không thể tránh khỏi.

– Tư tưởng: tư tưởng đóng một vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy hay kìm hãm biến đổi xã hội. Học thuyết Mác – Lênin thừa nhận vai trò quan trọng của tư tưởng và lý luận trong việc tạo ra các biến chuyển xã hội. M.Weber cũng đã nhấn mạnh và coi tư tưởng giữ vai trò động cơ trong biến đổi xã hội. T. Parsons, nhà xã hội học Mỹ (1902 – 1979) cũng đã coi nguồn gốc của sự biến đổi xã hội là do những biến đổi các giá trị, những khuôn mẫu trong xã hội…

Ở đây, ta cũng cần phải thấy sức ì của xã hội gắn liền với sự bảo thủ của tư tưởng, văn hóa, với các truyền thống, tập tục cũ, với sự bảo thủ của giai cấp thống trị, của lối sống, của những nhóm người xã hội nhất định cũng như những bất lực của xã hội về vật chất, giải pháp… Trước những yêu cầu duy trì sự biến đổi xã hội.

Nhìn chung, các nhà xã hội học đều cho rằng tư tưởng có thể giúp cho xã hội giữ nguyên trạng thái hoặc biến đổi cho thích ứng với những chuẩn mực xã hội mới.

4.2. Điều kiện biến đổi xã hội

Biến đổi xã hội chịu sự tác động của những yếu tố bên trong và bên ngoài như đã trình bày ở trên. Tuy nhiên, những yếu tố đó cũng cần có điều kiện để xuất hiện tạo nên những biến đổi xã hội. Những điều kiện cần cho sự biến đổi xã hội có thể là điều kiện vật chất, văn hóa hay tinh thần xã hội. Ta chỉ đề cập đến một số điều kiện cơ bản như sau:

a. Thời gian

Thời gian là vật chất, vì vậy, bất cứ một sự biến đổi nào cũng cần có thời gian. Đây là một điều kiện quan trọng để tạo ra sự biến đổi, mặc dù thời gian, tự bản thân nó không tạo ra sự biến đổi nhưng lại rất cần thiết cho sự biến đổi. Đặc biệt, các lĩnh vực văn hóa, xã hội rất cần thời gian để tạo ra những cái mới thay thế cái cũ, lạc hậu.

b. Hoàn cảnh

Sự biến đổi phải đặt trong hoàn cảnh cụ thể về văn hóa và vật chất. Con người là sản phẩm của hoàn cảnh. Tuy nhiên, con người không những thụ động trước hoàn cảnh mà con người có thể tác động tích cực trở lại làm thay đổi hoàn cảnh. Biến đổi xã hội, vì vậy, cần phải có môi trường, hoàn cảnh để triển khai các yếu tố đem lại sự biến đổi.

c. Nhu cầu của xã hội

Nhu cầu của xã hội và hoạt động của con người là hai mặt không thể tách rời nhau trong đời sống xã hội. Nhu cầu bao giờ cũng có đối tượng và mọi nhu cầu đều có nội dung cụ thể tùy theo nó thỏa mãn trong điều kiện nào và bằng phương thức nào. Nội dung cụ thể của nhu cầu phụ thuộc vào nhiều điều kiện và nhiều phương thức để thỏa mãn nó, chính điều kiện sống quyết định nội dung của nhu cầu và đồng thời nhu cầu cũng có tính chu kỳ. Mặt khác, ta biết rằng nhu cầu là vô tận, không có giới hạn. Nhu cầu của con người không ngừng thay đổi và phát triển, nhu cầu này được thỏa mãn lại nảy sinh nhu cầu kia.

Bất cứ một xã hội nào cũng đều có những nhu cầu của mình về văn hóa, xã hội. Vì vậy, nhu cầu xã hội là điều kiện quan trọng nhất cho sự biến đổi xã hội. Con người, về bản chất, luôn tìm tòi khám phá, phát hiện cái mới, do vậy, sự đáp ứng của nhu cầu xã hội thường dẫn đến cái mới, cái tiến bộ, là động lực thúc đẩy mạnh mẽ quá trình tư duy sáng tạo, thúc đẩy sự biến đổi xã hội. Ta cũng cần phải thấy, nhu cầu của con người hay xã hội rất phong phú, đa dạng và theo nhiều chiều hướng khác nhau, thậm chí trái ngược nhau, xuất phát từ những lợi ích của cá nhân hay nhóm xã hội trước những biến đổi xã hội.

4.3. Một số vấn đề về sự biến đổi của xã hội hiện nay

– Sự tan rã của Liên Xô và các nước XHCN Đông Á đã làm thay đổi bức tranh chính trị trên toàn cầu, làm thay đổi các quan hệ quốc tế, làm ảnh hưởng đến sự phát triển của các nước. Quan hệ giữa các nước thuộc hai phe chuyển thành quan hệ đa phương, đa cực, vừa hợp tác, vừa đấu tranh với nhau. Chủ nghĩa tư bản hiện đại còn tiếp tục điều chỉnh, nắm và sử dụng các thành tựu khoa học công nghệ, song không thể khắc phục nổi những mâu thuẫn vốn có. Chủ nghĩa xã hội thế giới tạm lâm vào thoái trào, nhưng có điều kiện và khả năng để phục hồi và phát triển.

– Khoa học và công nghệ có những bước nhảy vọt chưa từng thấy. Kinh tế tri thức sẽ chiếm vị trí ngày càng lớn trong quá trình phát triển.

– Quá trình quốc tế hóa, hiện đại hóa diễn ra một cách mạnh mẽ trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội như: phân công hợp tác quốc tế, thương mại dịch vụ, văn hóa, thông tin, môi trường… Quá trình quốc tế hóa có tác động hai chiều với các nước đang phát triển, một mặt tạo ra những điều kiện thuận lợi cho những nước lạc hậu kém phát triển hay đang phát triển có thể phát triển được nhanh hơn, mặt khác lại gặp phải những khó khăn và bất lợi do sự cạnh tranh của các nước khác. Do đó, mỗi nước phải tìm ra con đường đi thích hợp cho dân tộc mình để không bị tụt hậu.

– Toàn cầu hóa là một xu thế khách quan nhưng đang bị một số nước phát triển và các tập đoàn kinh tế xuyên quốc gia chi phối, chứa đựng nhiều mâu thuẫn, vừa tích cực, vừa tiêu cực, vừa có hợp tác vừa có đấu tranh.

– Vấn đề dân tộc vẫn được đặt ra với nội dung mới như: độc lập, chống can thiệp của nước ngoài, bình đẳng giữa các dân tộc, bản sắc dân tộc với tính thời đại, xu hướng tách khỏi liên minh cũ, hình thành liên minh mới… Đấu tranh dân tộc và đấu tranh giai cấp liên tục diễn ra dưới nhiều hình thức, lúc hòa hoãn, lúc gay gắt.

– Cuộc đấu tranh giữa hòa bình và chiến tranh luôn diễn ra nhưng có những biểu hiện riêng tùy từng giai đoạn lịch sử cụ thể. Chiến tranh nóng, chiến tranh lạnh, rồi đến diễn biến hòa bình… có thể vẫn nổ ra ở nơi này hay nơi khác, tùy thuộc vào bối cảnh lịch sử cụ thể, nhưng nhìn chung, xu thế hòa bình vẫn mạnh hơn chiến tranh và luôn có sự can thiệp của quốc tế vào nước này hay nước khác. Các mâu thuẫn cơ bản trên thế giới biểu hiện dưới những hình thức và mức độ khác nhau vẫn tồn tại và phát triển, có mặt sâu sắc thêm.

– Dân số là vấn đề nóng bỏng đang được đặt ra trên toàn cầu. Tình trạng dân số tăng quá nhanh, đặc biệt là ở các nước kém phát triển là một trong những nguyên nhân dẫn đến sự giảm sút và xuống cấp của nhiều lĩnh vực, nhiều mặt trong xã hội của chính quốc gia đó cũng như của cộng đồng quốc tế.

– Bảo vệ môi trường sinh thái là vấn đề bức thiết có tính chất toàn cầu. Ô nhiễm môi trường và mất cân bằng sinh thái, hậu quả của nền văn minh công nghiệp và hậu công nghiệp gắn liền với sự kém hiểu biết, vì lợi ích trước mắt hay cục bộ… đang là vấn đề nghiêm trọng không chỉ ở từng nước, mà còn mang tính quốc tế. Điều đó dẫn đến việc bảo vệ môi trường sinh thái trở thành vấn đề cấp bách đối với mỗi nước cũng như với toàn nhân loại.

4.4. Biến đổi xã hội Việt Nam giai đoạn đổi mới

Trong 15 năm đổi mới, thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH và chiến lược ổn định và phát triển kinh tế – xã hội (1991 – 2000), dưới sự lãnh đạo của Đảng, chúng ta đã vượt qua mọi khó khăn, mọi thách thức và đã giành được nhiều thành tựu to lớn về mọi mặt.

* Về kinh tế và đời sống nhân dân:

Kinh tế đã phát triển nhanh và vẫn giữ được nhịp độ tăng trưởng khá. Trong 10 năm (1991 – 2000), tổng sản phẩm quốc nội tăng gấp 2 lần, kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội và năng lực sản xuất tăng hơn trước; đất nước đã ra khỏi khủng hoảng kinh tế – xã hội. Nổi bật là nông nghiệp đã phát triển liên tục, góp phần quan trọng vào mức tăng trưởng chung và giữ vững ổn định kinh tế, xã hội. Từ chỗ thiếu lương thực, thiếu hàng tiêu dùng, nay ta đã dư thừa và xuất khẩu. Công nghiệp đã vượt qua nhiều khó khăn, thách thức, năng lực sản xuất những sản phẩm chủ yếu tăng khá. Các ngành dịch vụ vẫn tiếp tục phát triển, các cân đối chủ yếu của nền kinh tế đã được điều chỉnh thích hợp như: quan hệ giữa tích lũy với tiêu dùng, cải tiến đổi mới hệ thống tài chính tiền tệ, huy động mọi nguồn lực trong và ngoài nước, phát triển cơ sở hạ tầng, đẩy mạnh sự phát triển kinh tế đối ngoại…Từ cơ chế tập trung quan liêu, bao cấp ta đã chuyển dần sang nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận động theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của nhà nước theo định hướng Xã hội chủ nghĩa; từ nền kinh tế chủ yếu chỉ có hai thành phần sang nền kinh tế nhiều thành phần, trong đó kinh tế nhà nước là chủ đạo.

* Về văn hóa – xã hội

Văn hóa xã hội có bước phát triển khá trên nhiều mặt như:

Chương trình Quốc gia giải quyết việc làm đã được triển khai có hiệu quả.

Chính phủ đã ban hành nhiều cơ chế, chính sách giải quyết việc làm. Các trung tâm dạy nghề, hướng nghiệp và xúc tiến việc làm đã hoạt động tích cực. Các chính sách thúc đẩy đầu tư phát triển, mở rộng sản xuất đã tạo thêm nhiều việc làm mới. Bình quân, mỗi năm chúng ta đã giải quyết được việc làm cho khoảng hơn 1 triệu lao động, trong đó chủ yếu là khu vực tư nhân và kinh tế hợp tác…

Công tác xóa đói giảm nghèo được triển khai mạnh mẽ trên mọi miền của đất nước. Từ khi có chủ trương xóa đói giảm nghèo (1992) đến nay, Nhà nước đã đầu tư khoảng trên 21 nghìn tỷ đồng. Tỷ lệ đói nghèo đã giảm từ 20% năm 1995 xuống còn 11% năm 2000. Mặc dù kinh tế còn nhiều khó khăn, nhưng chúng ta có chính sách bảo đảm xã hội, nâng mức lương tối thiểu, tăng phụ cấp hưu trí, người có công… làm cho mức sống của cán bộ công nhân viên chức, người về hưu, người có công… được nâng lên một bước.

Công tác văn hóa, thông tin, văn học nghệ thuật có nhiều đóng góp tích cực vào công cuộc đổi mới đất nước. Các cơ quan và phương tiện thông tin đại chúng, các đoàn nghệ thuật, các hãng, xưởng phim… đã tích cực tuyên truyền, cỗ vũ các nhân tố mới, đấu tranh chống các mặt tiêu cực, các tệ nạn xã hội, khơi dậy những truyền thống tốt đẹp của dân tộc. Chương trình đưa văn hóa về cơ sở, mở rộng diện phủ sóng, phát thanh và truyền hình được thực hiện có kết quả tốt. Tính đến hết năm 2000, sóng truyền hình đã phủ tới 85% và sóng phát thanh đã phủ tới 95% diện tích cả nước và đến nhiều nơi trên thế giới. Các cơ chế quản lý văn hóa, thông tin đã được đổi mới theo hướng xã hội hóa.

Công tác dân số – kế hoạch hóa gia đình được triển khai tốt, với nhiều kết quả đáng kể. Tỷ lệ tăng dân số giảm từ 1,65% năm 1995 xuống còn 1,53% năm 2000. Cơ sở vật chất phục vụ cho công tác dân số – kế hoạch hóa gia đình được tăng cường đáng kể. Năm 1998, Việt Nam đã được Liên hợp quốc tặng thưởng về công tác dân số.

Công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân có nhiều tiến bộ, đặc biệt trong lĩnh vực y tế dự phòng. Tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng giảm từ 38% năm 1995 xuống còn 33 – 34% năm 2000. Về cơ bản ta đã thanh toán được bệnh bại liệt và uốn ván sơ sinh. Các bệnh sốt rét, bướu cổ đã giảm gần 60% so với 1995. Chính sách bảo hiểm y tế, chính sách khám chữa bệnh cho người nghèo, người có công với cách mạng được triển khai ở nhiều nơi.

Công tác chăm sóc người có công, các hoạt động đền ơn đáp nghĩa, uống nước nhớ nguồn được mở rộng và thu hút được mọi tầng lớp xã hội tham gia. Đến nay 100% các bà mẹ Việt Nam anh hùng đã được các cơ quan, đơn vị, tổ chức nhận phụng dưỡng đến hết đời. Phong trào xây dựng nhà tình nghĩa, lập sổ tiết kiệm cho các gia đình chính sách phát triển rộng khắp. Nhiều nghĩa trang, đài tưởng niệm liệt sỹ trên cả nước được xây dựng và nâng cấp. Quỹ đền ơn đáp nghĩa được thành lập, các hoạt động từ thiện, cứu trợ giúp đỡ nhau lúc thiên tai, hoạn nạn được tổ chức kịp thời, sâu rộng.

Phong trào thể dục thể thao phát triển rộng rãi trong cả nước. Quốc phòng an ninh, trật tự xã hội được giữ vững.

Sự nghiệp giáo dục – đào tạo có bước phát triển mới cả về quy mô, chất lượng, hình thức đào tạo và cơ sở vật chất. Quy mô học sinh tăng ở tất cả các bậc học, ngành học. Phong trào học tập văn hóa, khoa học kỹ thuật, nghiệp vụ quản lý, ngoại ngữ và tin học phát triển nhanh. Cơ sở vật chất kỹ thuật của nhà trường được tăng cường. Hệ thống các trường học ngoài công lập được hình thành và phát triển mạnh. Chất lượng giáo dục, đào tạo có chuyển biến bước đầu. Việc xã hội hóa giáo dục được triển khai mạnh mẽ. Đến hết năm 2000 có 100% tỉnh, thành phố đạt tiêu chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học và xóa mù chữ. Một số tỉnh, thành phố đã bắt đầu thực hiện chương trình phổ cập trung học cơ sở.

Khoa học công nghệ có bước chuyển biến tích cực. Nhiều đề tài khoa học công nghệ cấp Nhà nước, Bộ, tỉnh, thành phố… được triển khai và đưa vào ứng dụng trong thực tiễn đời sống kinh tế xã hội, trình độ công nghệ trong một số ngành sản xuất, kinh tế, dịch vụ đã được nâng lên một bước. Trình độ, năng lực của đội ngũ cán bộ khoa học và công nghệ được nâng lên rõ rệt, có khả năng tiếp thu và làm chủ nhiều công nghệ hiện đại.

Gia đình Việt Nam cũng có nhiều đổi mới: gia đình hiện đại (gia đình hạt nhân) có xu hướng tăng thay thế cho gia đình truyền thống. Chức năng của gia đình có sự biến đổi theo hướng tăng cường chức năng kinh tế, giảm chức năng giáo dục và “chuyển giao” dần cho xã hội (học nội trú, bán trú…). Tư tưởng “trọng nam khinh nữ” ít ảnh hưởng hơn so với trước đây và quan hệ vợ chồng, con trai, con gái trong gia đình được bình đẳng hơn.

(Nguồn tài liệu: TS. Nguyễn Thế Phán, Giáo trình Xã hội học, NXB Lao động Xã hội)

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.